Hiển thị các bài đăng có nhãn nghị sĩ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nghị sĩ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thư Quốc gia số 82 - 90: Ngành Lập pháp

Thư Quốc gia số 82

Hội đồng Quốc gia
6. Quy trình biểu quyết

4.1. Nhiệm kỳ

4.3. Dự luật và Quyết định 

4.4. Bỏ phiếu

5. Uỷ ban 

6. Dịch vụ cho các người dân 

7. Quyền lợi đặc biệt

Thư Quốc gia số 83

Hội đồng Quốc gia (tiếp theo)
4. Nhân viên

4.1. Chủ tọa Thượng viện 

4.2. Lãnh đạo các đảng phái 

4.3. Các nhân viên tại Thượng viện

5. Trình tự

5.1. Các cuộc họp hàng ngày 

5.2. Lịch hoạt động 

5.3. Uỷ ban

6 Nhiệm vụ của Thượng viện

6.1. Nhiệm vụ soạn luật 

6.2. Nhiệm vụ kiểm soát Hành pháp và Tư pháp

Thư Quốc gia số 81: Cấu trúc Ngành Lập pháp

Thư Quốc gia số 81

Cấu trúc Ngành Lập pháp

Kính thưa Quốc dân, Đồng bào Việt Nam yêu quý, 

Ngành Lập pháp là một trong Tam Quyền tại Việt Nam Dân Quốc. Ngành Lập pháp bao gồm Quốc hội và 64 Hội đồng Thành phố.

Quốc hội là cơ quan đứng đầu ngành Lập pháp. Quốc hội bao gồm hai viện: Nghị viện và Hội đồng Quốc gia.

Quốc hội có lưỡng viện ngõ hầu để cân bằng quyền lực giữa các Thành phố. Mỗi Thành phố được gởi hai Nghị sĩ vào Nghị viện, và mỗi 250 ngàn dân được gởi một Nghị viên vào Hội đồng Quốc gia.

Như vậy, khởi đầu sẽ có 128 Nghị sĩ và 360 Nghị viên Quốc gia. Sau này nếu có sát nhập các Thành phố, hay dân số gia tăng, số thành viên Quốc hội sẽ khác.

Nghị viện và Hội đồng Quốc gia có quyền lực ngang nhau Nghị viện chuyên soạn thảo các Dự Luật có tính đối ngoại, trong khi Hội đồng Quốc gia thiên về đối nội. Tuy nhiên, các Dự luật đều phải do lưỡng viện thông qua mới được gởi qua Tổng thống duyệt xét. Một số Dự luật có tính kết hợp giữa đối ngoại và đối nội có thể được Uỷ ban Liên viện tại cả hai viện đồng hợp tác soạn thảo.