Thư Quốc gia số 81: Cấu trúc Ngành Lập pháp

Thư Quốc gia số 81

Cấu trúc Ngành Lập pháp

Kính thưa Quốc dân, Đồng bào Việt Nam yêu quý, 

Ngành Lập pháp là một trong Tam Quyền tại Việt Nam Dân Quốc. Ngành Lập pháp bao gồm Quốc hội và 64 Hội đồng Thành phố.

Quốc hội là cơ quan đứng đầu ngành Lập pháp. Quốc hội bao gồm hai viện: Nghị viện và Hội đồng Quốc gia.

Quốc hội có lưỡng viện ngõ hầu để cân bằng quyền lực giữa các Thành phố. Mỗi Thành phố được gởi hai Nghị sĩ vào Nghị viện, và mỗi 250 ngàn dân được gởi một Nghị viên vào Hội đồng Quốc gia.

Như vậy, khởi đầu sẽ có 128 Nghị sĩ và 360 Nghị viên Quốc gia. Sau này nếu có sát nhập các Thành phố, hay dân số gia tăng, số thành viên Quốc hội sẽ khác.

Nghị viện và Hội đồng Quốc gia có quyền lực ngang nhau Nghị viện chuyên soạn thảo các Dự Luật có tính đối ngoại, trong khi Hội đồng Quốc gia thiên về đối nội. Tuy nhiên, các Dự luật đều phải do lưỡng viện thông qua mới được gởi qua Tổng thống duyệt xét. Một số Dự luật có tính kết hợp giữa đối ngoại và đối nội có thể được Uỷ ban Liên viện tại cả hai viện đồng hợp tác soạn thảo.

Thư Quốc gia số 71 - 80: Ngành Tư Pháp

Thư Quốc gia số 71

Cấu trúc Ngành Tư pháp

1. Introduction 

2. Lịch sử 

3. Cấu trúc Ngành Tư pháp 

4. Tòa án Địa phương

4.1. Thẩm phán Địa phương

5. Tòa án Thành phố

5.1. Thẩm phán Thành phố

6. Tòa án Quốc gia

6.1. Thẩm phán Quốc gia

7. Tối cao Pháp viện

7.1. Thượng Thẩm phán và Tối Thượng Thẩm phán

Thư Quốc gia số 62: Quyền lực tại Việt Nam sẽ được phân bố khắp địa phương

Thư Quốc gia số 62 

Quyền lực tại Việt Nam sẽ được phân bố khắp địa phương

Kính thưa Quốc dân, Đồng bào Việt Nam yêu quý,

Trong Manifest der kommunistischen Partei (Cộng sản Luận), Karl Marx viết: "Die politische Gewalt im eigentlichen Sinne ist die organisierte Gewalt einer Klasse zur Unterdrückung einer andern" (Quyền lực chính trị, gọi đúng nghĩa, chẳng qua chỉ là quyền lực có tổ chức của một giai cấp để đàn áp một giai cấp khác).

Karl Marx tố cáo rằng xã hội tư bản thế kỷ 19 không cho phép mọi người bình đẳng trước pháp luật, và mọi quyền lực chính trị, kinh tế, xã hội bị tập trung tại các chính phủ trung ương do giai cấp Tư sản tạo ra và vĩnh viễn hóa. Các chính quyền địa phưong chỉ thực thi các điều lệnh ban xuống từ trung ương, còn người dân vô sản hoàn toàn không có quyền hành gì.

Karl Marx cho rằng giai cấp tư sản tạo ra một xã hội trong đó giai cấp tư sản (bourgeois) bóc lột và đàn áp giai cấp vô sản (proletariat). Từ đó ông đưa ra chủ thuyết phải tạo một xã hội toàn cầu trong đó không còn giai cấp, vì ngày nào còn giai cấp là sẽ còn đấu tranh giai cấp triền miên, giai cấp thắng sẽ đàn áp giai cấp thua, người giàu hiếp đáp người nghèo.

Thư Quốc gia số 58: Tài sản và bất động sản cá nhân đều bất khả xâm phạm

Thư Quốc gia số 58 

Tài sản và bất động sản cá nhân đều bất khả xâm phạm

Kính thưa Quốc dân, Đồng bào Việt Nam yêu quý, 

Tại Việt Nam Dân Quốc, quyền sở hữu có thể tuyệt đối hoặc tương đối. "Quyền sở hữu tuyệt đối" bao gồm các điều thiêng liêng, không nhìn thấy được như quyền sở hữu tính mạng, đức tin tôn giáo, tình yêu Tổ quốc, tình yêu tha nhân, ông bà, cha mẹ, họ hàng, và con cháu. Không ai, kể cả Chính phủ, có thể vi phạm hoặc hạn chế các Quyền sở hữu tuyệt đối của bất cứ công dân nào. Không một Tòa án nào có thể ra lệnh cho một công dân phải bãi bỏ hoặc giảm nhẹ đức tin, tình yêu của người đó cho bất cứ Thượng đế nào người đó tin vào, hoặc người nào mà người đó tin yêu, tin tưởng - miễn người đó không có bất cứ hành động nào trái pháp luật.

"Quyền sở hữu tương đối" bao gồm quyền sở hữu tài sản trực tiếp và gián tiếp. Các tài sản trực tiếp là các tài sản có thể nhìn thấy được ngay trong hiện tại, ví dụ căn nhà, cơ xưởng. Các tài sản gián tiếp là các tài sản chưa được hiện thực hóa, ví dụ thu nhập trong tương lai, mùa lúa chưa gặt. Trong một vài trường hợp, các Quyền sở hữu tương đối này có thể bị thu hồi bởi một quyết định của Tòa án, ví dụ như một người làm ăn thua lỗ có thể bị tịch biên công xưởng để trả lại cho chủ nợ. 

Thư Quốc gia số 53: Tự do tín ngưỡng, lương tâm, và tôn giáo

Thư Quốc gia số 53 

Tự do Tôn giáo, Lương tâm, và Tín ngưỡng

Kính thưa Quốc dân, Đồng bào Việt Nam yêu quý, 

Tự do tôn giáo là một nguyên tắc ủng hộ quyền tự do cá nhân và cộng đoàn, trong chốn tư nhân và nơi công cộng, để hành sự tôn giáo và bày tỏ tín ngưỡng trong việc giảng dạy, thực hành, thờ phụng, và tôn kính. Khái niệm này cũng được mở rộng đến việc chấp nhận việc tự do thay đổi tôn giáo và không phải theo bất cứ tôn giáo nào.

Tuy là một quốc gia không có quốc giáo, Việt Nam Dân quốc cho phép tự do tín ngưỡng, lương tâm, và tôn giáo. Chính phủ cho phép mọi tôn giáo được quyền tự do hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, và các điều luật định sẽ được Quốc hội thông qua và Tổng thống phê duyệt sẽ có hiệu lực cho đồng đều mọi tôn giáo, không có bất cứ một hạn chế riêng biệt cho bất cứ một tôn giáo nào.